Ngày 13/5/2026, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 840/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp số giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn 2045. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm đưa công nghiệp công nghệ số trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật nền tảng, tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế và chuyển đổi số quốc gia.
Với quan điểm lấy doanh nghiệp làm trung tâm, xác định khu vực kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất để phát triển công nghiệp công nghệ số, trong đó, chú trọng huy động các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là các tập đoàn tư nhân lớn chuyển dịch, đầu tư, phát triển ngành công nghiệp công nghệ số. Phát triển công nghiệp công nghệ số với tinh thần "Make in Viet Nam" - sáng tạo tại Việt Nam, làm ra tại Việt Nam, sản xuất tại Việt Nam.
Hình ảnh minh họa
Mục tiêu của Chương trình là Phát triển công nghiệp công nghệ số Việt Nam thành ngành kinh tế - kỹ thuật hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, với các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và giải quyết các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia, bài toán lớn của quốc gia về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; góp phần quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ số tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, đưa Việt Nam trở thành một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới, gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Nâng cao vị thế và thương hiệu "Make in Viet Nam" trong khu vực và quốc tế. Cụ thể:
Mục tiêu đến năm 2030
- Doanh thu ngành công nghiệp công nghệ số đạt tối thiểu 300 tỷ USD; tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành trong giai đoạn 2026 - 2030 đạt mức từ 12% trở lên; doanh thu xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ công nghệ số của doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đạt tối thiểu 55 tỷ USD/năm, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt tối thiểu 30%/năm.
- Phấn đấu đạt 100.000 doanh nghiệp công nghệ số; trong đó tối thiểu có 05 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam ngang tầm các nước tiên tiến.
- Đào tạo và phát triển đội ngũ trên 03 triệu nhân lực công nghiệp công nghệ số; bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa nhân lực nghiên cứu, phát triển, kỹ sư thực hành và công nhân kỹ thuật; hình thành đội ngũ, mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành trong và ngoài nước về công nghệ số, đủ năng lực dẫn dắt, thực hiện các nhiệm vụ trọng điểm, bài toán lớn của quốc gia.
- Doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có khả năng làm chủ công nghệ để sản xuất, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ thuộc Danh mục sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm; phấn đấu mỗi địa phương thực hiện tối thiểu 01 hoạt động cấp phép và triển khai thử nghiệm có kiểm soát sản phẩm, dịch vụ ứng dụng công nghệ số phù hợp điều kiện thực tiễn phát triển công nghiệp công nghệ số nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoàn thiện khung pháp lý về công nghiệp công nghệ số.
- Hình thành 16 - 20 khu công nghệ số tập trung, trong đó tối thiểu có 01 khu công nghệ số tập trung quy mô lớn, phù hợp với định hướng, mục tiêu phát triển của vùng kinh tế trọng điểm; hình thành ít nhất 01 Trung tâm tính toán hiệu năng cao dùng chung để giải quyết nhiệm vụ, bài toán lớn, hỗ trợ phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm; phát triển mạng lưới các trung tâm, phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia phục vụ sản xuất, thiết kế và đo kiểm chip bán dẫn; thiết bị mạng 5G/6G và các thế hệ tiếp theo, sản phẩm công nghệ số đạt chuẩn quốc tế.
Tầm nhìn đến năm 2045
- Việt Nam trở thành quốc gia có ngành công nghiệp công nghệ số phát triển, là trung tâm công nghiệp công nghệ số hàng đầu khu vực và vươn lên nhóm dẫn đầu thế giới; công nghiệp công nghệ số trở thành ngành kinh tế chủ đạo, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng và thịnh vượng quốc gia.
- Phát triển đội ngũ doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực cạnh tranh toàn cầu, làm chủ công nghệ lõi, dẫn dắt xu hướng phát triển và khẳng định vị thế, thương hiệu "Make in Viet Nam" trong chuỗi giá trị toàn cầu; bảo đảm tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ số tương đương các nước phát triển, hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến và thu hút thêm ít nhất 05 dự án mới của các tổ chức, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, đầu tư nghiên cứu, sản xuất tại Việt Nam.
Các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu bao gồm:
-Tiếp tục hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật về công nghiệp công nghệ số;
-Thúc đẩy nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số;
-Phát triển doanh nghiệp công nghệ số;
-Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp công nghệ số;
-Phát triển hạ tầng công nghiệp công nghệ số hiện đại, đồng bộ;
-Thúc đẩy, xúc tiến đầu tư cho hoạt động công nghiệp công nghệ số;
-Phát triển thị trường và chuỗi cung ứng công nghiệp công nghệ số;
-Phát triển bền vững công nghiệp công nghệ số;
-Xây dựng, vận hành hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu công nghiệp công nghệ số;
-Hỗ trợ phát triển công nghiệp bán dẫn;
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao giữ vai trò đầu mối triển khai, thúc đẩy phát triển toàn diện ngành công nghiệp công nghệ số quốc gia.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào các nhiệm vụ tại Chương trình và điều kiện thực tế của địa phương để xây dựng kế hoạch hoặc lồng ghép vào các chương trình, kế hoạch của địa phương mình để triển khai Chương trình; nghiên cứu xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách và ưu tiên bố trí nguồn lực để triển khai thực hiện.