Chính phủ điều chỉnh, bổ sung chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030
Ngày 02/4/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 604/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030.
Chiến lược xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực chủ yếu để xác lập mô hình tăng trưởng mới, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thời củng cố quốc phòng, an ninh và năng lực tự chủ chiến lược quốc gia.
Mục tiêu tổng quát đến năm 2030 là phát triển tiềm lực và trình độ khoa học, công nghệ của Việt Nam đạt mức tiên tiến ở một số lĩnh vực quan trọng; làm chủ một số công nghệ lõi, công nghệ chiến lược; xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển mạnh hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và đội ngũ doanh nghiệp công nghệ Việt Nam có năng lực cạnh tranh khu vực, từng bước vươn ra thị trường toàn cầu.
Chiến lược đề ra 15 mục tiêu cụ thể:
1. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%.
2. Tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt tối thiểu 50%.
3. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) không ngừng được cải thiện, thuộc nhóm 40 quốc gia hàng đầu thế giới.
4. Tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tối thiểu 2% GDP, trong đó nguồn ngoài ngân sách nhà nước chiếm trên 60%. Bố trí ít nhất 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và tăng dần theo yêu cầu phát triển.
5. Nhân lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (quy đổi toàn thời gian) đạt 12 người trên một vạn dân.
6. Có tối thiểu 50 tổ chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới.
7. Số lượng công bố khoa học quốc tế tăng bình quân 10%/năm.
8. Số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng bình quân 16 - 18%/năm; tỷ lệ khai thác thương mại đạt 8 -10%.
9. Hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI) thuộc nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới.
10. Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển trí tuệ nhân tạo.
11. Trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trung bình của thế giới.
12. Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp.
13. Tỷ lệ kết quả nghiên cứu từ viện, trường được thương mại hóa đạt tối thiểu 30%.
14. Hình thành tối thiểu 5-10 doanh nghiệp công nghệ quy mô khu vực trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược.
15. Làm chủ và sản xuất trong nước một số sản phẩm công nghệ chiến lược có tác động lớn đến kinh tế và an ninh quốc gia.
Để đạt được các mục tiêu trên, Chiến lược đề ra 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, gồm: (1) Triển khai các chương trình, nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược; (2) Phát triển các lĩnh vực khoa học và công nghệ làm nền tảng cho đổi mới sáng tạo; (3) Phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hạ tầng dữ liệu quốc gia; (4) Phát triển tổ chức khoa học và công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao; (5) Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ, thị trường khoa học và công nghệ và tài sản trí tuệ; (6) Chủ động hội nhập và thúc đẩy ngoại giao khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đồng thời, Chiến lược nhấn mạnh các giải pháp đột phá về thể chế, cơ chế quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và Đột phá về cơ chế tài chính và huy động nguồn lực.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ 02 tháng 4 năm 2026 và thay cho Quyết định số 569/QĐ-TTg ngày 11 tháng 5 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030.